Bạn quên mật khẩu? Đăng ký tại đây
  • Narrow screen resolution
  • Wide screen resolution
  • Auto width resolution
  • Increase font size
  • Decrease font size
  • Default font size
  • default color
  • red color
  • green color
Đăng nhập

Mùi vị - Ẩm thực Việt nam

Thứ năm
23
Tháng 10
Nhà arrow Các mục bài viết arrow Thuốc nam arrow Cây thuốc kỳ diệu: Xuân Hoa (hay Hoàn Ngọc)
Cây thuốc kỳ diệu: Xuân Hoa (hay Hoàn Ngọc) | In |
Người đưa bài: essen   
19/10/2008
Ông bạn già người Thailand gần 60 tuổi, giới thiệu cây thuốc như một kỳ tích : " Ông bạn trẻ, trồng cây này đi, mặc dù là cây thuốc Việt Nam nhưng bên Thailand bán rất chạy và rất nổi tiếng, bên đó họ mua một cây con với giá 17.000 VND. Ông bạn Thailand kể ông hàng xóm Việt Nam của ông ta, năm nay sắp sửa "thất thập cổ lai hy" rồi, nhưng ăn mỗi ngày vài lá vào buổi sáng sớm, tinh thần rất rất minh mẫn, da dẻ căng mịn như da con gái ... và thậm chí còn có khả năng .... 
Ba ngày sau, ông bạn già Thailand đem cho tôi hai cây, xin của ông già 70 và nói: " trồng đi nhé, một cây cho tôi và một cây cho ông bạn trẻ !"
Cây Xuân hoa có tên khoa học là Pseuderanthemum palatiferum (Nees) Radlk, thuộc họ ôrô (Acanthaceae). Qua nghiên cứu cho thấy thành phần hoá học của cây có các chất sau (xếp theo thứ tự từ nhiều đến ít): Sterol, đường tự do, carotenoit, flavonoit, axít hữu cơ, vết saponin và vết chất béo. Thử nghiệm cho thấy cây Xuân hoa không độc và không thấy có biểu hiện khác thường nào đối với người dùng.

- Theo tài liệu chuyền tay trong dân gian mà chúng tôi có được thì cây Xuân hoa có rất nhiều công dụng, chữa các bệnh từ thông thường đến nan y. Nhưng phải qua các thí nghiệm mới xác minh được các tác dụng lưu truyền đó. Trước hết cao đặc toàn phần và các phân đoạn chiết tách từ lá cây Xuân hoa (cả cây trồng và cây mọc hoang) đều có tác dụng kháng khuẩn đối với nấm mốc, nấm men, đặc biệt vi khuẩn Escherichia coli ở đường tiêu hoá. Điều này phù hợp với kinh nghiệm dân gian dùng lá cây Xuân hoa chữa đau bụng, tiêu chảy do nhiễm khuẩn, rối loạn tiêu hoá. Ngoài ra, cao đặc lá cây Xuân hoa còn có tác dụng ức chế quá trình peroxy hoá lipid màng tế bào, có xu hướng tác dụng bảo vệ tế bào Gan.

- Lá cây Xuân hoa không mùi vị, hơi nhớt. Thường dùng lá tươi rửa sạch, nhai với mấy hạt muối rồi chiêu nước, hoặc giã nát lấy nước uống, hay nấu canh. Cũng có thể dùng lá phơi khô. Về liều lượng còn phụ thuộc vào loại bệnh của từng người: Thông thường ăn 5-7 lá/lần (lá nhỏ có thể dùng 7-9 lá), ngày 1-2 lần. Thời gian điều trị tuỳ vào bệnh như rối loạn tiêu hoá, tiêu chảy, lỵ trực khuẩn chỉ dùng 2 ngày là khỏi; đái rắt, buốt, ra máu dùng 3-4 ngày; viêm đại tràng co thắt điều trị khoảng 2 tuần, kết hợp với lá Mơ lông. Lá cây Xuân hoa cũng được dùng cho gia súc, gia cầm như chó cảnh sau khi đẻ cho ăn vài lá, gà chọi khi thi đấu cho ăn 1-3 lá.

- Theo tiến sĩ Võ Văn Chi (Từ điển cây thuốc Việt Nam. NXB Y học 1997) cho biết ở Trung Quốc người ta dùng rễ Xuân hoa chữa đòn ngã tổn thương.

- Để tránh nhầm lẫn, xin nhắc lại các đặc điểm dễ nhận biết của cây Xuân hoa: Cây bụi, cao từ 1-3m, sống nhiều năm, thân non mềm màu xanh lục, phần già hoá gỗ màu nâu, phân nhiều cảnh mảnh. Lá mềm mọc đối, mép lá nguyên. Phiến lá hình mũi mác, hai đầu nhọn, dài khoảng 15cm, rộng 4cm, khi vò tươi thấy lá nhớt và hơi dính tay. Cuống lá dài khoảng 2cm, gốc phiến lá men xuống cuống lá. Cụm hoa dài 10-16cm ở kẽ lá hoặc đầu cành. Hoa lưỡng tính, không đều, dài khoảng 3cm, cánh hoa màu trắng, phần dưới hình ống hẹp, trên có 5 thuỳ hoa chia làm 2 môi, thuỳ dưới của môi dưới có các chấm màu tím. Bao phấn màu tím. Vòi nhụy dài khoảng 2,5cm. Tuy nhiên nhiều người nói trồng xuân hoa đã 3-4 năm nhưng chưa thấy ra hoa, do thời tiết hay do bị hái lá, chưa rõ nguyên nhân?!

Cách dùng và liều lượng:

- Người ta dùng lá tươi là chủ yếu, lá tươi ăn ngay hoặc lấy nước uống, nấu chín lá ăn như canh.

- Do tác dụng chủ yếu là chất nước trong lá, nên vỏ cây hoặc vỏ rễ có thể ngâm bằng rượu hoặc nấu lấy nước. Lá tươi không có mùi vị, dễ ăn, liều lượng nhiều hay ít tùy thuộc vào từng người. Thông thường nên ăn từ 1- 7 lá và ăn nhiều lần. Mỗi lần không quá 10 lá. Uống quá liều có thể phản ứng nhẹ như người bị choáng váng nhưng chỉ sau 10 – 15 phút là khỏi.

Các số liệu sau đây là phổ biến (trừ ngoại lệ):

- Ðau dạ dầy do bị loét, viêm: ăn 2 lần/ngày. Mỗi lần không quá 7 lá. Khoảng 50 lá là khỏi.

- Chảy máu đường ruột: Uống lá tươi hoặc lá đã nát, dùng 7–10 lá. Khoảng 1-2 lần là khỏi.

- Viêm đại tràng co thắt: Ăn như trên, 100 lá, kết hợp ăn lá Mơ lông trong bữa ăn. Ăn từ 1 đến 2 tháng.

- Viêm gan, xơ gan cổ trướng: Ngày ăn 2-3 lần, mỗi lần 7 lá, dùng khoảng 150 lá.

- Ðau thận, viêm thận, đau thường xuyên: Dùng không quá 50 lá, chỉ khoảng 30 lá là dứt cơn đau, ngày 3 lần, mỗi lần 3-7 lá.

- Tả lỏng, đi lỵ, rối loạn tiêu hóa: 7-15 lá, dùng 2 lần là khỏi.

- Mệt mỏi toàn thân: 3-7 lá, ăn 2 lần.

- Ðái rắt, đái buốt, đái đục, đái ra máu: Ăn từ 14-21 lá hoặc giã nát uống nước đặc.

- Chữa bệnh cho gà dùng 1-3 lá, gà chọi sau khi chọi 1-3 lá. Chó cảnh đẻ ăn 1 lá sau 1 ngày đẻ là mạnh ngay. Ðau mắt đỏ, mắt trắng, ứ máu trong mắt lấy 3 lá đắp vào mắt sau một đêm là khỏi.

- Được biết ở vài nơi có người thực nghiệm chữa cai nghiện ma túy có kết quả tốt. Họ dùng một nửa lá khô và một nửa lá tươi sắc đặc uống trước khi lên cơn nghiện từ 60-90 phút. Ngày uống 2 lần, uống liên tục một tuần, sau đó ngửi thấy ma túy là kinh sợ nên cai nghiện rất triệt để. Tuy nhiên trong thực tế có bệnh nhân dùng thì thấy khỏi, có bệnh nhân thì không khỏi do nhiều nguyên nhân khác nhau.

Lưu ý

- Dùng lá tươi là chủ yếu. Nấu lá chín dùng như canh cũng được. Vỏ hay rễ cây có thể chiết xuất bằng rượu hoặc nấu lấy nước. Liều lượng nhiều hay ít thuộc vào từng bệnh, từng tạng người. Thông thường nên ăn 1-4 lá, không nên quá 7-9 lá. Nếu quá liều có thể gây phản ứng nhẹ như choáng váng, nhưng chỉ sau 15 phút là khỏi. Gián cách giữa hai đợt ăn từ 7 giờ trở lên. Thường dùng ngày hai lần, trước khi ăn cơm. Không phải kiêng cử.

- Lá già thì đắng, có bột, lá non thì nhớt, không mùi, không có độc tố, vỏ và rễ có mùi như lá già, lá cây tươi có tác dụng kích thích thần kinh. Dùng nhiều có cảm giác say nhẹ trong thời gian ngắn. Nấu chín ăn như Rau, không phản ứng gì, nếu dùng không đủ liều lượng thì không có tác dụng. Tăng giảm liều lượng tùy từng người.

- Theo dõi kết quả hoặc phản ứng sau khi ăn và sau một đến hai ngày mà thay đổi liều lượng và số lần ăn trong ngày cho thích hợp. Ăn lá vào buổi sáng khi bụng đói khi chưa ăn gì, các bữa ăn cách nhau 60-90 phút. Chú ý sau khi ăn xong, nằm yên tĩnh 15 phút duỗi thẳng chân tay, mắt nhắm không lo lắng, nghĩ ngợi lung tung. Đó là thời gian tự điều chỉnh. Không thực hiện thời gian nghỉ này thì kém hiệu quả.

Cây Hoàn Ngọc

Cây Hoàn Ngọc thuộc họ Acanthaceae, còn có tên là cây Tu Lình, cây Nhật Nguyệt hay cây Con Khỉ, cây Xuân Hoa, cây Thần dưỡng sinh, cây Trắc Mã, cây Điền Tích, cây Lan Điều. Tên khoa học là Pseuderanthemum Palatiferum Radik (Nees).

Xuất xứ cây này được gọi là cây “con khỉ” vốn là vì khỉ ăn chữa khỏi bệnh thủng ruột, nhưng sau đổi thành “Hoàn Ngọc” vì đã trả lại cho chú bé có hòn dái bị biến mất do trò chơi nghịch đá vào bìu nhau.

Cây thuốc rất đa năng. Từ hồi phục trạng thái của cơ thể khỏe mạnh đến các bệnh thông thường cũng như hiểm nghèo. Cây thuốc như cứu tinh trong nhiều trường hợp thúc bách, không rõ nguyên căn, nhưng sau khi ăn, diễn biến của bệnh tương tự như một hành động điều trị, điều chỉnh trạng thái cơ thể, chỗ nào yếu điều trị chỗ đó

Có thể nêu cụ thể tác dụng cây thuốc như sau:

1. Khôi phục sức khỏe cho người ốm yếu, mệt mỏi, người già, suy nhược thần kinh, làm việc quá sức, khủng hoảng về tinh thần và thể lực.

2. Cảm cúm nhiệt độ cao, rối loạn tiêu hóa.

3. Chấn thương chảy máu, dập gãy cơ thể, dùng như nước uống và thuốc đắp. Ðặc biệt hiệu nghiệm với vết thương sọ não.

4. Khi bị nhiều bịnh một lúc như: Bệnh đường ruột, cảm cúm, gan, thận . . .

5. Ðau dạ dầy, chảy máu đường ruột, lở loét hành lá tràng, viêm loét đại tràng, trĩ nội.

6. Ðau gan xơ gan cổ trướng.

7. Viêm thận, viêm đường tiết niệu, đái ra máu, đái buốt, đái đục, đái rắt, bìu đau nhức. Sau khi uống hoặc ăn 150 lá đến 200 lá khỏi hẳn, tràn dịch màng phổi chữa đều tốt.

8. Ðau bên trong không rõ nguyên nhân.

9. Ðau mắt đỏ, mắt trắng, đau ứ máu.

10. Phụ nữ đang cho con bú bị sa dạ con cũng ăn lá thuốc không ảnh hưởng gì đến sữa.

11. Ðối với người có bệnh huyết áp cao hoặc thấp ăn lá thuốc đều có hiệu quả, ổn định được thần kinh, rối loạn thần kinh thực vật đều chữa khỏi.

12. Có thể dùng cho chó Nhật, như đẻ một ngày cho ăn lá sạch ngay. Gà chọi sau khi chọi cho ăn lá nó khôi phục sức gấp 3 lần.

Theo tôi dùng chữ “thần dược” với cây thuốc nầy cũng không quá, là một nhà nghiên cứu tôi muốn đặt câu hỏi tại sao để chúng ta bàn luận. Tại sao khi ăn thuốc có khả năng hiệu chỉnh làm cơ thể ổn định? Có lẽ nhờ phân tích hóa chất gì đó đã tạo nên những hiệu quả như vậy.

Chúng ta tốn rất nhiều thời gian và phải có thí nghiệm tốt. Theo kinh nghiệm trong dân gian, ta hãy rút ra từ thực tế. Ví dụ: suy nhược thần kinh nặng, huyết áp cao, huyết áp thấp, đái ra máu, đái rắt đều chữa được rất nhanh chóng. Có những bệnh xem như đối lập nhau cho một loại thuốc nhưng ngược lại thuốc vẫn chữa được phải chăng theo quy luật bảo toàn, cơ thể con người có khả năng bảo tồn lấy sức khỏe nên đã tự động tăng sức đề kháng hoặc tự điều chỉnh, tự cân bằng tương đối để thắng bệnh tật. Do đó hầu hết các bệnh đều tự khắc phục được.

Ở đây, khi ta dùng “Hoàn ngọc”, lá thuốc này có tác dụng chữa bệnh như châm cứu, tức là tự động điều chỉnh lại cơ thể nhưng hoàn toàn tự động hoá để khắc phục bệnh tật do tự tác dụng, tự cân bằng âm dương. Vì vậy cây còn có tên là “Nhật Nguyệt”. Chính vì thế mới có khả năng chữa nhiều bệnh cùng một lúc như vậy. Chính từ những suy nghĩ đó, chúng tôi đã vận dụng để chữa được rất nhiều bệnh và phục hồi sức khỏe. Tuy nhiên với từng người còn phải có liều lượng cho phù hợp do tính chất cân bằng âm dương và hàn nhiệt của từng người.

Mô tả cây thuốc

Ðây là loại cây lá dài nhọn, mặt sau hơi nhạt, không bền mà chỉ vàng một chút là rụng ngay.

Cây có thể cao 1-2 m (nếu trồng trên đất vườn nhà), sống lâu năm. Thân cây xanh hoặc tím lục, khi già chuyển thành màu nâu, phân ra nhiều mảnh. Lá mọc đối xứng hình mũi mác, hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành, lưỡng tính. Quả nang 2 ổ, mỗi ổ chứa 2 hạt. Mùa hoa từ tháng 4 đến tháng 5 âm lịch. Tuy nhiên nhiều người nói trồng xuân hoa đã 3-4 năm nhưng chưa thấy ra hoa, do thời tiết hay do bị hái lá, chưa rõ nguyên nhân?!

Cây rất dễ trồng, chỉ cần dùng một nhánh con giâm vào đất vườn nhà hoặc trồng trong chậu kiểng. Cây chịu đất xốp và có độ ẩm trung bình. Trồng khoảng trên 2 tháng là có thể dùng làm thuốc chữa bệnh.

Lưu ý: theo lương y Đinh Công Bảy, Tổng thư ký Hội Dược liệu TP SG, còn có loại cây Hoàn ngọc lá dài, màu xanh đậm, thân bò, trên 1 m, không dùng chữa bệnh.

(Theo: TS Trần Công Khánh, GS Phạm Khuê, Từ điển Bách khoa dược học (1997), báo LĐ 12/4/2001, SGGP, Tuổi Trẻ, 5/5/2003, VE 28/11/2004)

Các lời bình (8)

essen (19 10, 2008)


Cây HOÀN NGỌC
Thái Thụy Vy



Thời buổi này mà nói có loại dược thảo trị được ung thư chắc chắn sẽ bị cười vào mặt vì ai cũng biết ung thư là một bịnh nan y.

Nhưng trên thực tế đã có người khỏi bệnh như nhà báo Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng của tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong ở Virginia và Trung tá KQ Bùi Hoàng Khải.

Trước đây, tôi có nghe nói tới cây Xạ Đen (Celastrus Hindubenth), còn gọi là cây Dây Gối Ấn Độ hay Thanh Giang Đằng của người Mường ở miền Thượng du Bắc Việt trị được Ung thư tôi đã nghĩ ngay đến những vụ bốc thổi quá đáng về mặt thương mại vì số người chết nhiều thứ nhì về bịnh nan y trên thế giới ngày nay là bệnh Ung Thư sau bệnh về tim mạch .

Tác giả bài nầy chỉ đề nghị một phương pháp trị liệu thay thế (alternative). Phước chủ may thầy. Các bệnh nhân mà bác sĩ chê. Còn nước còn tát. Trời ngó lại. Biết đâu ???.

Có nhiều bệnh mà chúng ta chỉ có cách dùng phẩu thuật ngoại khoa (surgery) để giải quyết cấp bách như bệnh sưng ruột dư (appendicite) hay có thai ngoài tữ cung (grossesse extra).

Nhưng có nhiều bệnh phải cần tới đầu óc cởi mỡ (open mind) nhất là khi Tây Y đã bó tay.

Trong bài Kim Thất Tai trước tôi có đề cập tới cây Hoàn Ngọc. Mới đây tôi nhận được tài liệu cây này từ Thụy Sĩ. Tôi muốn chia xẻ cùng các bạn.

Bài vỡ lòng ở trường Dược là:”Khi ta đem một chất hóa học vào cơ thể, nó là một chất ngoại lai có độc tính mục đích là để đánh đổi với một bệnh trạng nào đó”. (Tây Y gọi là side effects).

Ngày nay, ai lại không có một lần bỏ vô miệng chất độc với một mục đích dể hiểu.

Dược thảo cũng có nhiều thứ có độc tố. Ví như nhựa cây Curaré mà thổ dân Nam Mỹ dùng để tẩm tên độc săn bắn. Nếu dùng liều lượng nhỏ nó sẽ là thuốc tê. Đồng bào Thượng ở Việt Nam biết dùng một loại dây leo để thuốc cá...

Cây Hoàn Ngọc thuộc họ Acanthaceae, còn có tên là cây Tù Lình, cây Nhật Nguyệt hay cây Con Khỉ, cây Xuân Hoa , cây Thần dưỡng sinh, cây Trắc Mã, cây Điền Tích, cây Lan Điều . Tên khoa học là Pseuderanthemum Palatiferum Radik (Nees) .

Như chúng ta đã biết Đông Y xuất xứ từ các thầy võ qua sự bắt chước các thú vật biết tự tìm lấy cây lá mà chửa bệnh hoặc chửa thương. Nên cây nầy có tên Con Khỉ vì khỉ đã ăn để chửa bịnh thủng ruột. Sau đổi tên Hoàn Ngọc vì nó có hiệu quả trả lại cho chú bé hòn dái bị biến mất do chơi nghịch lở đá vào háng của nhau.

Theo Giáo Sư Bác sĩ Phạm Khuê chuyên gia bệnh học tuổi già, hội trưởng những người cao niên toàn quốc thì cây Hoàn Ngọc là một món quà của thiên nhiên tặng cho con người. Nó có tác dụng thật đa năng từ phục hồi sức khỏe đến chửa bịnh thông thường cũng như bệnh hiểm nghèo.

Đây là một loại thuốc cứu tinh trong nhiều trường hợp cấp bách, kể cả khi không rỏ căn bệnh. Khi dùng có tác dụng tự điều chỉnh trạng thái cơ thể, chổ nào yếu thì điều trị chổ đó.

Theo Đông Y, đó là tác dụng Cân Bằng Âm Dương. Vì vậy còn có tên là cây Nhật Nguyệt.

Theo GS Phạm Khuê dùng chữ thần dược với cây thuốc này cũng không quá đáng. Câu hỏi ở đây là :” Tôi là một nhà nghiên cứu, tôi phải tự hỏi tại sao ăn lá cây thuốc nầy lại có tác dụng hiệu chỉnh cho cơ thể ổn định ? Vì kinh nghiệm dân gian chứng minh nó đã trị liệu thành công nhanh chóng các bệnh về suy nhược thần kinh nặng, huyết áp cao, huyết áp thấp, tiểu ra máu, tiểu rát... Đặc biệt là có những bệnh xem như đối nghịch nhau, cho một loại thuốc, vậy mà vẫn chửa khỏi cả.”

“Dùng lá tươi là chủ yếu. Lá tươi không có mùi vị gì như lá Kim Thất Tai. Nấu lá chín dùng như canh cũng được. Vỏ hay rễ cây Hoàn Ngọc, có thể chiết suất bằng rượu hoặc nấu lấy nước. Liều lượng nhiều hay ít thuộc vào từng bệnh, từng tạng người. Thông thường nên ăn 1-4 lá, không nên quá 7-9 lá. Nếu quá liều có thể gây phản ứng nhẹ như choáng váng, nhưng chỉ sau 15 phút là khỏi. Gián cách giữa hai đợt ăn từ 7 giờ trở lên. Thường dùng ngày hai lần, trước khi ăn cơm. Không phải kiêng cử.”

Lá Hoàn Ngọc già thì đắng, có bột, lá non thì nhớt, không mùi, không có độc tố, vỏ và rể có mùi như lá già, lá cây tươi có tác dụng kích thích thần kinh. Dùng nhiều có cảm giác say nhẹ trong thời gian ngắn. Nấu chín ăn như rau, không phản ứng gì, nếu dùng không đủ liều lượng thì không có tác dụng. Tăng giảm liều lượng tùy từng người.

Liều lượng: Dùng lá tươi, nam 7 lá , nữ 9 lá, rửa sạch, nhai nuốt, có thể nhấm nháp với tí muối. Tùy bệnh nặng nhẹ, và người bệnh già trẻ, lớn nhỏ khác nhau mà dùng từ 2-3 lần trong ngày. Theo dõi kết quả hoặc phản ứng sau khi ăn và sau một đến hai ngày mà thay đổi liều lượng và số lần ăn trong ngày cho thích hợp. Ăn lá vào buổi sáng khi bụng đói khi chưa ăn gì, các bửa ăn cách nhau 60-90 phút. Chú ý sau khi ăn xong, nằm yên tỉnh 15 phút duỗi thẳng chân tay, mắt nhắm không lo lắng, nghĩ ngợi lung tung.

Đó là thời gian tự điều chỉnh. Không thực hiện thời gian này thì kém hiệu quả.

Công dụng:

1- Bệnh Ung thư thời kỳ mới phát. Ngày ăn 2 lần hoặc hơn, tùy mức độ giảm đau, ăn thường xuyên người tỉnh táo, ăn ngủ tốt, giảm đau rỏ rệt.

2- Bệnh về gan thận: Viêm gan, xơ gan, cổ trướng ăn ngày 2 lần khi đói, hoặc dùng lá khô tán bột, hòa với cây tam thất, 1 liều lượng hai vị bằng nhau, đây là thuốc đặc trị xơ gan cổ trướng, các bệnh viêm thận cấp hoặc mản tính như suy thận, đi đục, đái ra máu, ăn ngày 2 lần. Sau 15 ngày bệnh thuyên giảm rỏ rệt.

3- Các bệnh về tiêu hóa: Như tiêu chảy, kiết lỵ, đau bụng, rối loạn tiêu hoá, đầy hơi...ăn ngày từ 2-3 lần đến khi khỏi. Có thể nấu canh nhạt mà ăn, khi đau ruột thừa cần ăn liều lượng cao 15 lá, sau hai tiếng cơn đau dứt. Sau đó nên đem vào bệnh viện để kiểm tra.

4- Bệnh có kèm chảy máu: Đái ra máu, chảy máu dạ dày, chảy máu mũi, thổ huyết...ăn từ 2-4 lần trong ngày, có thể sắc thuốc uống hoặc nấu canh ăn, tác dụng như Vitamine K.

5- Tiết niệu sinh dục: Viêm bàng quang, đường tiết niệu, đái gắt, đái buốt, đái đục, bị ngã, đánh thót hòn dái (nên gọi là Hoàn Ngọc), viêm sưng, ra máu bộ phận sinh dục.

6- Các u bướu, u phổi, u sơ phì nhiếp hộ tuyến: Cũng dùng như trên sẽ ăn ngủ tốt, riêng u sơ nhiếp hộ tuyến, điều trị đúng 10 ngày của hạ tuần trăng (từ ngày 20-30 âm lịch) phải chữa trong 3 tuần trăng (30 ngày trong 3 tháng).

7- Các bệnh viêm, loét: Viêm loét dạ dày, tá tràng, đại tràng, trĩ nội, trĩ ngoại, ăn liền một tuần, nếu uống rượu bệnh tái phát. Đau răng, sâu răng, viêm lợi, nhai lá với tí muối ngậm 5-10 phút.

8- Điều chỉnh huyết áp: ổn định thần kinh, ăn xong chợp mắt ngủ một lúc, liên tục ăn 5-7 ngày huyết áp cao hoặc thấp sẽ trở lại bình thường; khi rối loạn thần kinh thực vật, ăn lá vào buổi sáng, nằm yên tỉnh 15 phút, chiều tối hoặc hôm sau sẽ ổn định.

9- Trị cảm cúm: chấn thương, nâng cao sức đề kháng. Cảm cúm đau đầu, sốt, cứ 2 giờ là ăn một lần sau khi sốt, ăn cháo nấu với lá người khỏe trở lại. Vết thương kín thì nhai lá đắp, vết thương hở thì giã lá đắp và băng chặt, hoặc uống hoặc ăn cầm máu vết thương, chống viêm nhiễm, lá có tác dụng như kháng sinh và Vitamine K. Khi người cảm, thấy mệt mỏi hoặc muốn nâng cao sức chịu đựng trong tập luyện nặng nhọc, nên ăn 5-7 lá trước 30 phút.

10- Trị cho súc vật: Trâu bò, chó mèo, gà vịt, chim bồ câu... bị ỉa chảy, động kinh dùng lá cho ăn, chữa được bệnh, kích thích tiêu hoá và làm tăng trưởng.

11- Điều trị bệnh phụ nữ: Không có ảnh hưởng đến tuyến sữa. Trẻ em thì phải giã lấy nước uống.
Cây Hoàn Ngọc được lưu truyền trong dân gian. Ở Hà Nội thì các dược sĩ, bác sĩ, luơng y đã kịp thời trồng cây và ứng dụng để rút kinh nghiệm và phổ biến trong các hội nghị, trên báo “Thuốc và Sức khỏe” số 101 ngày 1/2/1997.

Tiến sĩ Trần Công Khanh viết: ”Cho đến cuối năm 1996 tác dụng công nghiệp của cây Hoàn Ngọc chưa được nghiên cứu. Gần đây chúng tôi đã hướng dẫn sinh viên Dược khoa nghiên cứu cây này để làm luận án Tiến sĩ (xem trang nhà www.phuochiep.bravepages.com).

Các phản ứng định tính sơ bộ xác định trong lá có chứa Coumarin, Sterol, Đường khử, Carotenoid và các Acid hữu cơ.

Phân tích dịch chiết của lá bằng Cột sắc ký, đã trích tinh được ba chất Sitoaterol B (khoảng 0.1% trong lá khô)â. Kiểm định tác dụng kháng vi sinh vật các cây trồng trổ hoa cho thấy nó có tính kháng Gram (-) và cả Gram ( ) ở đường tiêu hoá.

Cây Hoàn Ngọc còn có tác dụng kháng Nấm ( đặc biệt loại E Scheri Chin Coli là một trong những vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hoá).

Bác sĩ Nguyễn Văn Ích viết:” Ở khu tập thể Nam Đồng tôi đã dùng lá Hoàn Ngọc trị bệnh viêm đại tràng, loét dạ dày, viêm họng, điều chỉnh huyết áp cao, viêm thần kinh tọa, và đau lưng tất cả đều có kết quả tốt.

Tôi dùng lá để trị u sơ nhiếp hộ tuyến (prostate), mỗi tháng uống 10 ngày cuối tháng âm lịch, mỗi ngày 9 lá. Uống được 3 tháng, tiểu tiện bình thường.

Chỉ cần một số bệnh ở Trại tập thể Nam Đồng đã được chửa trị bằng lá Hoàn Ngọc đủ cho tôi tự tin để khuyên mỗi người nên trồng một chậu vừa làm kiểng vưà làm thuốc trong gia đình “

“Tôi được biết ở vài nơi có người thực nghiệm chữa cai nghiện ma túy có kết quả tốt. Họ dùng một nửa lá khô và một nửa lá tươi sắc đặc uống trước khi lên cơn nghiện từ 60-90 phút. Ngày uống 2 lần, uống liên tục một tuần, sau đó ngửi thấy ma túy là kinh sợ nên cai nghiện rất triệt để.

Tuy nhiên trong thực tế có bệnh nhân dùng thì thấy khỏi, có bệnh nhân thì không khỏi do nhiều nguyên nhân khác nhau.”

Vì vậy ta nên trồng như chơi cây cảnh, rồi ứng dụng chửa bệnh giúp người trong nhà trước rồi mới xác định được tác dụng, hiệu quả một cách thực tế.

Hiện nay, chưa có cơ quan nào công nhận các loại dược thảo mới lạ ngoài các dược thảo thông dụng đã được FDA công nhận.

Tốt nhất là chúng ta nên dè dặt đợi những công trình nghiên cứu đã được các cơ quan có thẩm quyền công nhận. Nếu bị Vô Phương Trị Liệu viếng thăm (terminally ill) thì cứ thử thời vận vì lá Hoàn Ngọc không bị coi là độc dược.

Theo psychosomatic (tự kỷ ám thị) nếu các bạn có suy nghĩ tích cực (positive) nó cũng giúp cho các bạn rất nhiều về sự đề kháng .

Với hình thức một bài viết tổng quát mà không được tiếp xúc từng bệnh nhân, với sự dè dặt thường lệ của nghề nghiệp, bài viết chỉ nêu lên các đề nghị (suggestions) mà chưa dám khẳng định khi chưa được biết các yếu tố khác như di truyền, dị ứng chẳng hạn .

Tôi muốn nhân bài này để giới thiệu các bạn vài môn thuốc gia truyền vừa rẻ tiền vừa công hiệu đã được chứng nghiệm để khỏi bị thất truyền với thời gian: (tôi đang gom góp để viết thành sách cùng với các loại thực phẫm bổ âm và bổ dương :Yin and Yang, thực phẫm nào có lợi cho sức khỏe v.v...)

1- Bị lên đàm khi ngủ: Dùng thịt ếch nấu với đậu đỏ ăn chừng ba con hết thì ngưng . Không nên nêm nếm gia vị sợ mất dược tính.

2- Bịnh Nấm Mồng Gà Hoa khế: Dùng phèn chua hơ trên ngọn lửa đừng để bị cháy, nghiền thành bột bóp dưới gốc Nấm Mồng Gà vài lần sẽ khỏi .

3- Bị bí đái: Lấy đọt tre khô nấu với Tim bấc uống như trà sẽ chảy re.

4- Bị Lát đồng tiền: (tiếng Miền Bắc còn gọi là Hắc Lào) Lấy lá Kiến Cò phơi khô trộn với dầu hôi (kerosene) thoa vài lần là khỏi.

5- Thối tai: (nghĩa đen chứ không phải nghĩa bóng) Dùng sáp ong bào mỏng cuốn giấy thổi vào tai để hút mủ cho khô. Có thể lập lại nếu còn chảy mủ.

6- Thuốc an thần: Có rất nhiều người chưa bao giờ thấy được dược thảo hiếm có này tuy rất quen thuộc vì chu kỳ (cycle) nỡ hoa của nó là 60 năm: đó là bông tre. Hồi 1975 là năm tôi được thấy bông tre. Nó chùm lớn bông nhỏ không có gì đẹp. Giống bông Thiết Mộc Lan nhưng không thơm. Sau 75 một ông thầy Tàu ghé bác bên vợ tôi bảo: ”Đất mộ nhà ông có của quý mà ông không biết”. Theo lời chỉ dẫn ông ra đất mộ thấy lủy tre nỡ bông. Ông nghe lời thầy Tàu đem về phơi khô để dành. Sau 75, nhiều cảnh đổi đời, ông Chánh Án Gia Định vì lo âu đã bị bịnh mất ngủ trầm trọng. Ông bác tôi cho ông dùng thử bông tre ông ngủ lại được bình thường.

Nó là thuốc an thần hiếm quý vì thế mà có một sự trùng hợp khá kỳ thú là cũng năm đó con gấu đốm đen trắêng Panda bên Trung Hoa xém bị tuyệt chủng vì cây tre rừng đồng loạt trổ bông và chết sau đó khiến con Panda thiếu thức ăn ưa thích và cần thiết nên chết vô số, trong thiên nhiên chỉ còn hơn trăm con. ( Sở thú Washington D.C. phải mướn hai con Panda mỗi năm hai triệu đô la cho công chúng xem) Mãi mấy tháng sau măng mới mọc và có lá tre cứu giống Panda khỏi tuyệt chủng.
Thái Thụy Vy

____________________
Haitran56

Các bạn thân mến:

Tôi xin đăng lại những dòng sau đay để làm sáng tỏ vấn đề cây Hoàn Ngọc như một số người thổi phồng quá đáng. Tôi xin mách các bạn rằng tôi đã bị tiểu đường 350 mg và áp huyết 195/100 dùng phương pháp Dr Atkin trong 1 tuần lễ áp huyết chỉ còn 117/78 và đường 106 mg. Đừng bao giờ nghe những lời bậy bạ không kiểm chứng được

Hoàn ngọc có phải "thuốc chữa bách bệnh"?

Hoàn ngọc gần như đã trở thành một thứ cây không thể thiếu trong những gia đình may mắn có một khoảng đất, dù là rất nhỏ. Không ít gia chủ còn giữ bên mình những tờ rơi trình bày có vẻ rất "khoa học" về công dụng và cách sử dụng của loại "thần dược" này. Nếu tin vào đó thì không có bệnh gì là không thể chữa khỏi. Thế nhưng, thực tế thì sao?

Lâu nay, tại TP SG xuất hiện một tài liệu đề tên tác giả là một tiến sĩ, thiếu tướng, một thầy thuốc nổi tiếng ở Hà Nội và được quảng cáo là kinh nghiệm "đúc kết" sau điều trị cho bệnh nhân trong hơn 2 năm.

Chữa được vô số bệnh

Tài liệu liệt kê rất nhiều công dụng của hoàn ngọc:

- Chữa đi lỏng, lỵ, rối loạn tiêu hoá, táo bón, đau bụng không rõ nguyên nhân (ăn 7-9 lá, khoảng 2-3 lần/ngày cho đến khi khỏi).

- Nếu nghi đau ruột thừa, khi chưa kịp đi cấp cứu có thể ăn đến 15 lá trong phạm vi 2 giờ, cơn đau sẽ rút và tiếp tục đi cấp cứu.

- Điều trị chảy máu dạ dày và đường ruột, đái ra máu.

- Giảm đau trong ung thư gan, phổi, dạ dày… (ăn 2 lần/ngày, mỗi lần 3-7 lá, có thể dùng kéo dài được 6 tháng).

- Chữa khỏi khối u xơ ở phổi và tuyến tiền liệt, xơ gan cổ trướng, viêm gan, viêm thận cấp hoặc mạn, suy thận…

- Điều trị được chấn thương sọ não, va đập, gãy dập xương hay bắp thịt: Lá thuốc có tác dụng cầm máu, khôi phục các mô cơ bị dập (với vết thương kín cần nhai lá rồi đắp, với vết thương hở nên giã).
Tuy nhiên, tài liệu đã "cẩn thận" ghi rõ không phải khi nào có bệnh ăn lá cũng khỏi ngay, rằng phần lớn trường hợp bệnh đều khỏi nhưng cũng có khi không.

Gần đây, lại xuất hiện thêm một tài liệu khác, mang tựa đề "Cây thuốc kỳ diệu - cây hoàn ngọc hay nhật nguyệt", ghi rõ do một giáo sư đứng đầu một viện về y khoa viết từ năm 1995. Tài liệu này cũng khẳng định đây là một cây thuốc đa năng, cứu tinh trong nhiều trường hợp, với khả năng kỳ tài là "chỗ nào yếu điều trị chỗ ấy". Theo đó, hoàn ngọc chữa được cảm cúm, đau gan, viêm thận, tràn dịch màng phổi, đau mắt đỏ, mắt trắng. Người có huyết áp cao hoặc thấp ăn lá thuốc đều có hiệu quả, ổn định được thần kinh…!

Chưa thể kết luận

Theo lương y Đinh Công Bảy, Tổng thư ký Hội Dược liệu TP SG, Uỷ viên BCH Hội Đông y TP SG, cần phân biệt 2 loại cây hoàn ngọc:

- Loại dùng trong chữa bệnh: Có lá hình xoan nhọn, ngắn, màu xanh nhạt, thân đứng, cao khoảng 0,5-1 m, có tên khoa học là Pseuderanthemum palatiferum (Nees), Radlk, thuộc họ ôrô (Acanthaceae).

- Loại hoàng ngọc lá dài, màu xanh đậm, thân bò, trên 1 m, không dùng chữa bệnh.
Tiến sĩ Trần Công Khánh cho biết, đã có nghiên cứu, sơ bộ xác định trong lá hoàn ngọc có chứa sterol, coumarin, đường khử, carotenoid và axit hữu cơ. Thuốc này được ghi nhận trong dân gian, nhưng mới sử dụng điều trị bệnh trong thời gian gần đây nên chưa được đúc kết kinh nghiệm, cần có thời gian và các phương pháp nghiên cứu khoa học kiểm chứng mới có thể đưa ra kết luận cụ thể. Riêng về tác dụng giảm đau của hoàn ngọc, ông khẳng định là chưa ghi nhận được bất cứ trường hợp lâm sàng nào.

Một số công dụng được ghi nhận

Ông Khánh cũng cho biết, trong thực tế, cây hoàn ngọc có công hiệu tốt đối với một số bệnh thuộc hệ tiêu hoá như viêm loét dạ dày, rối loạn tiêu hoá, nhiễm khuẩn đường ruột, chữa đái buốt, đái ra máu, bị chấn thương. Cách dùng:

- Rửa lá thật sạch, nhai với chút muối cho nhừ rồi nuốt. Có thể giã nát, hoà với nước để uống, hoặc lấy lá nấu canh nhạt để ăn.

- Liều lượng 2-8 lá/ngày, chia làm 2 lần, trước bữa ăn.

- Thời gian điều trị 7-20 ngày, tuỳ loại bệnh và mức độ của bệnh.

- Không nên sử dụng quá 10 lá vì có thể gây cảm giác khó chịu. Như vậy, chúng ta nên thận trọng khi sử dụng loại lá thuốc này và đừng quá tin vào nó, khi có bệnh cần đi khám bác sĩ chuyên khoa để có hướng điều trị kịp thời.
(Theo Tuổi Trẻ, 5/5)

trucdaidt (21 10, 2008)


Cây này nhà Trúc Đài có trồng, dân gian gọi nó là cây con khỉ, trị gan rất hay. Nó có tên gọi là cây con khỉ vì những người đi rừng phát hiện thấy con khỉ bị thương đã dùng lá cây này ăn và sau khi theo dõi thì thấy con khỉ này khỏi bệnh. Cây này theo 1 số người là thần dược, ba Trúc Đài bị gan nên rất hay dùng lá này và thấy có nhiều công hiệu lắm.

pooh beo (09 01, 2009)


À đây là lá màu trắng, có cây màu đỏ nữa. Nhà e trồng rất nhiều,lá cây đỏ phơi khô, cất đun nước uống rất mát.Khi nào nhiệt miệng dùng lá cây trắng nhai nát,đẩy vào chỗ nhiệt mau khỏi lắm.E thấy bố mẹ gọi là huyết khỉ,kể giống truyện chị trucdai kể kìa^^

pooh beo (09 01, 2009)


À bạn Ocean,cây này bạn chỉ cần vặt 1 nhánh rồi đem trồng cũng sống đó.Nếu bạn ở HN, có thể qua nhà mình vặt 1 cành về trồng^^

TranAi (16 08, 2009)


Chà lâu rồi không thấy Pooh Béo ghé nhà nhỉ !
Sẽ gửi tin nhắn cho bạn ấy smilies/grin.gif

pooh beo (19 08, 2009)


Cháu vào điểm danh này chú Trần smilies/tongue.gif

@thu trang: chút nữa mình sẽ mail cho bạn

Viết lời bình
bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký để viết lời bình.

Copyright 2007. All Rights Reserved.
busy
  Bài mới
Bài cũ
<< trang trước                    trang tiếp>>

Nhà bếp

Tô inox
Tô inox

Add to Cart

Nồi GSW
Nồi GSW

Add to Cart

Nồi chảo Alessi
Nồi chảo Alessi

Add to Cart

MC8 - Vá canh lớn Sola
MC8 - Vá canh lớn Sola

Add to Cart

Ngoài chợ trời

Latest Message: 1 week, 5 days ago
  • tun : Kem đánh răng muối tre của hàn Quốc dùng cũng rất khá.
  • regalvn : cám ơn bác Essen nhiều!
  • essen : vào tìm kiếm bài : các loại muối ăn thú vị nhất thế giới
  • essen : xem cac loai muối tại đây : «link»
  • regalvn : cách đây 1 năm mình có coi chương trình americas chef Iron họ có nói vấn đề sử dụng muối trong nấu ăn nhưng lâu rồi quên mất ! mong các vị nói đến các loại muối nầy Thanks
  • regalvn : msg đến bác Ess và bác Rich trong ẩm thực muối có mấy loại để dùng trong nấu ăn ! theo mình biết thì có 2 loại đặc dùng cho món thịt và món hải sản ! mong msg
  • lean : sao lâu ghê mới thấy bài đăng vậy các anh chị
  • cudat_sg : Cám ơn TT cho bài cá Chai; nhìn da của nó nhăn rúm như bà già, mặt thì xấu trai hơn tui rồi đó Smile .  TT tìm dùm bài khô cá Ngộ đi TIA .
  • Ti Ti : Ủa! CD Không biết 2 con này thật sao? Vậy khi nào về VN tha hồ xơi nhe!
  • cudat_sg : Hehe..,  cũng muốn thưởng thức lắm, nhưng chưa có cơ hội; cá Ngộ thì cũng chưa bao giờ thấy; và cá chai cũng không hiểu là gì !!!  Nhưng cũng cám ơn Ti Ti nhiều .
Please Login to shout..
Chúng ta có 149 khách trực tuyến

Lời bình mới

  • Các loại muối ăn thú vị nhất thế giới
  • Theo mô tả thì mình có thể làm được muối ống tre, ho®..
  • Bánh mì cuộn chà bông
  • Nhìn cái bánh của bác thấy thèm quá ! Để bắt chước l...
  • Món lạ từ ốc dừa
  • Mới đọc " ốc dừa" tưởng là  con ốc dừa nhỏ xí ch&#-1234;.
  • Đậu bắp trộn thịt băm
  • món này ngon, dễ làm, trời đang nóng nhìn hấp dâʮ..
  • Orange sandwich cookies
  • Hi Bác Rich, em thích bánh này, nhưng em không kiếm ra cái mn..
  • Sirup bắp, mạch nha
  • Ái chà! Đường fructose lại có nhiều trong trái cây mà em...
  • Dụ lịch và ẩm thức: An Giang
  • Nuôi cá với mật độ thế này thì ... tội nghiệp cho chn..
  • Về Trà Vinh ăn con chù ụ
  • Mấy năm trước đi công tác ở Quảng Ninh, Bãi Cháy đưṮ..
  • Khô cá hồi, Khô cá thu… cách làm khô cá các loại
  • LL cho HA xin hình máy sấy luôn nhe.. Tks..
  • Khổ qua rừng
  • Nếu như khổ qua rừng lên tới bàn tiệc rồi thì con ngĮ..
  • Du lịch và ẩm thực: Vĩnh Long
  • Vĩnh Long ơi.. Ước gì được cùng thuyền và mời cô 1 t...
  • Thịt bê
  • Mắc tiền nhưng ăn cũng không đậm đà như thịt bò.
  • Du lịch và ẩm thực, Tiền Giang
  • Món chuối quết dừa lạ dữ, nửa giống món ngọt, nữa ...
  • Vịt Kho Ngũ Vị
  • Nhìn cái ơ này hấp dẫn qua! wink
  • Hủ tiếu bà Năm Sa Đéc
  • Đọc bài này nhớ ba mình quá, ngày xưa ơi là xưa cuối t...
  • Bánh bao xíu mại – Cách làm bánh bao cho trắng, bông xốp
  • Hay quá, để bữa nào bắt chước theo cách Lan chỉ smiley
  • Nhu cầu năng lượng khẩu phần ăn hợp lý
  • Chà, bài này cũng hay nhưng thấy "phức tộp" quá! smiley